Kỹ thuật Feynman và 4 bước giúp bạn nhớ mọi thứ

Kỹ thuật Feynman có thể giúp bạn nhớ mọi thứ mình đã đọc, Bill Gates cũng phải sử dụng, và đến mức ông đặt tên cho Feynman là “người thầy vĩ đại nhất mà tôi từng có”.

Kỹ thuật Feynman

Định nghĩa

Kỹ thuật Feynman là một phương pháp học tập nổi tiếng giúp chúng ta nhanh chóng ghi nhớ và thật sự hiểu những gì đã học, nó bao gồm 4 bước.

Kỹ thuật Feynman có nguồn gốc từ đâu ?

Kỹ thuật Feynman là đứa con tinh thần của nhà khoa học Richard Feynman (1918- 1988)

Feynman là nhà khoa học đã từng đoạt giải Nobel Vật lý vào năm 1965. Không chỉ nổi tiếng là một khoa học gia lỗi lạc với những nghiên cứu đột phá trong điện động lực học lượng tử và vật lý hạt, ông còn là một cá nhân xuất sắc trong khả năng tổng hợp và giải thích những lý thuyết phức tạp bằng ngôn ngữ đơn giản. Trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình, ông đã sáng tạo ra Kỹ thuật Feynman để có thể nhanh chóng ghi nhớ, hoàn toàn hiểu và sử dụng những kiến thức mình đã tiếp thu.

Dựa vào kỹ thuật Feynman, chúng ta có biến một lý thuyết phức tạp trở nên đơn giản theo cách riêng của mình để chia sẻ với người khác mà không làm ảnh hưởng đến khái niệm cốt lõi.

Kỹ thuật Feynman

Bao gồm 4 bước

  1. Chọn một khái niệm và tìm hiểu về nó.
  2. Giả vờ như đang (hoặc thực sự) dạy nó cho một đứa trẻ.
  3. Xem lại những lỗ hổng trong hiểu biết của mình và tiếp tục nghiên cứu.
  4. Tinh chỉnh, hệ thống lại kiến thức và hoàn thiện bài giảng ở bước 2.

Kỹ thuật Feynman ảnh hưởng đời sống như thế nào

Tại sao chúng ta quên béng những gì đã đọc

Chúng ta hầu hết đều vô tình nhầm lẫn giữa tiếp thu với học tập. Chúng ta nghĩ rằng chỉ cần đọc, xem hoặc nghe thì thông tin đó sẽ trở thành của chính mình. Trừ khi bạn có một bộ nhớ khủng, nếu không thì tất cả những thông tin bạn đọc chỉ đơn thuần là thông tin.

Để bảo vệ bản thân khỏi bị kích thích quá mức, bộ não của chúng ta lọc và quên đi hầu hết những gì chúng ta tiếp thu. Nếu chúng ta nhớ tất cả những gì mình đã tiếp nhận, thì chúng ta đã không thể sống trên hành tinh này.

Nhưng người ta cứ hành động như thể bộ não của họ sẽ giữ mọi thứ. Họ tự vạch ra cho mình phải đọc một số lượng cụ thể sách mỗi năm. Vì quá tập trung vào số lượng, thay vì việc học, chúng ta quên béng những gì đã đọc. Cuối cùng đọc sách chỉ là giải trí.

Vào những năm 1850, chính Schopenhauer đã từng tuyên bố: “Khi chúng ta đọc, có một người khác đang suy nghĩ giúp mình: chúng ta chỉ lặp lại quá trình suy nghĩ của người ấy. Vì vậy, để học, chúng ta cần phải tự mình suy nghĩ.”

Nếu một người đọc sách mà không dừng lại để suy nghĩ thì sẽ không nhớ cũng như không áp dụng được bất cứ điều gì họ đã đọc. Bạn có thể dễ dàng nhận ra những người này. Ví dụ: họ nói rằng họ đã đọc một cuốn sách, nhưng lại không đúc kết được điều gì. Có thể, họ đã không học được điều gì khi đọc cuốn sách đó.

Mortimer Adler đã nói rõ điều đó khi ông viết: “Nếu người nào đó nói rằng: tôi biết tôi đang nghĩ gì, nhưng lại không thể diễn đạt nó ra, thì người đó thực sự chẳng biết mình đang nghĩ gì”.

Làm thế nào có thể nhớ những gì đã đọc

Giảng dạy là cách hiệu quả nhất để đưa thông tin vào tâm trí bạn. Ngoài ra, đây là một cách dễ dàng kiểm tra xem bạn có nhớ những gì mình đã đọc hay không. Bởi vì trước khi dạy, bạn phải thực hiện một số bước: lọc thông tin có liên quan, sắp xếp thông tin này và diễn đạt rõ ràng bằng vốn từ vựng của riêng bạn.

Không ai có thể vượt qua Feynman trong việc làm chủ quá trình này. Những người cùng thời biết đến ông vì ông có thể giải thích những quá trình phức tạp nhất bằng ngôn ngữ đơn giản nhất. Họ đặt biệt danh cho Feynman là “Người giải thích vĩ đại”.

Nếu bạn đang tìm kiếm một cách để thúc đẩy quá trình học tập và muốn trở nên thông minh hơn, thì Kỹ thuật Feynman có thể là cách tốt nhất để bạn học mọi thứ.

Kỹ thuật Feynman là một phương pháp giúp chúng ta ghi nhớ những gì đã đọc bằng cách sử dụng các khái niệm liên kết và xây dựng. Đó là một công cụ để ghi nhớ những gì bạn đã đọc bằng cách giải thích nó bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu.

Kỹ thuật Feynman không chỉ là một công thức tuyệt vời để học mà còn là một cánh cửa dẫn đến một cách suy nghĩ khác cho phép bạn chia nhỏ các ý tưởng và định nghĩa lại chúng.

Kỹ thuật Feynman là cách tiếp cận: trí thông minh là một quá trình phát triển, kết hợp độc đáo với công trình của Carol Dweck, người đã mô tả chính xác sự khác biệt giữa tư duy cố định và tư duy phát triển.

Kỹ thuật Feynman và 4 bước cụ thể

Bước 1: Chọn một khái niệm và tìm hiểu

Quá trình tự học bắt đầu bằng việc chọn ra một khái niệm mà bạn đang quan tâm rồi đặt bút vào tờ giấy trắng rồi viết ra tất cả những gì mà bạn biết về chủ đề đó. Trên tờ giấy trắng của bạn có thể là một bài luận tổng quan dài vài nghìn chữ, hoặc cũng có thể chỉ là một vài gạch đầu dòng.

Hãy lưu ý rằng không có quy tắc nào ở đây cả, việc viết ra chỉ đơn giản là cách để ghi lại kiến ​​thức những kiến thức mà bạn hiện có.

Tuy nhiên, bạn càng viết và trình bày một cách cụ thể và đơn giản thì việc học sẽ càng hiệu quả hơn.

Sau khi hoàn thành việc viết ra những gì mình đã biết, hãy dựa vào đó để nghiên cứu, phát triển và bổ sung thêm những thông tin còn thiếu vào bản ghi chú viết tay này.

Bước 2: Giả vờ như đang (hoặc thực sự) dạy nó cho một đứa trẻ

Cách thức thực hiện

Khi bạn đã tự tin với những gì mình biết về những kiến thức mà mình tìm hiểu được ở bước 1, đã đến lúc đóng vai giáo viên.

Hãy tưởng tượng rằng bạn đang giải thích khái niệm lý thuyết này cho một đứa trẻ 12 tuổi. Bạn có thể làm điều này bằng cách giả vờ (tưởng tượng như có một học sinh đang ở trước mặt) hoặc thực sự dạy điều đó cho một đứa trẻ (hoặc một người lớn). Bạn có thể sử dụng bảng trắng, nói chuyện với giọng hài hước… hay bất cứ điều gì làm bạn cảm thấy như mình thực sự đang truyền đạt những kiến thức mà mình đã biết cho một ai đó.

Khi thành công trong việc tìm hiểu thông tin và viết ra tương đối đầy đủ từ tổng quan đến những góc cạnh của một khái niệm lý thuyết trên giấy, chúng ta có thể dễ dàng tự cho rằng mình đã thật sự hiểu nó. Tuy nhiên, khi thực sự bắt tay vào việc cố gắng để đơn giản hóa và chia sẻ những gì mình biết cho người khác, chúng ta có thể sẽ thấy những khoảng hổng trong sự hiểu biết của mình.

Mục đích

Muc đích của Bước 2 là khuyến khích việc đơn giản hóa sự phức tạp và tìm ra những khoảng hổng kiến thức này. Và ngay khi chúng xuất hiện, bạn nên đánh dấu chúng để sẵn sàng cho Bước 3.

Bước 3: Xem lại những lỗ hổng trong hiểu biết của mình và tiếp tục nghiên cứu

Sau khi đã đóng vai một nhà giáo và hoàn thành bài giảng của mình, bạn cần xem lại những lỗ hổng đã được xác định trong quá trình giảng dạy.

Sau đó, hãy quay lại công việc tìm hiểu, đọc lại thông tin mà bạn chưa hiểu rõ và nâng cao kiến ​​thức chuyên sâu để lấp những khoảng trống kiến thức.

Đừng quá mong đợi rằng bạn sẽ nắm vững một khái niệm lý thuyết ngay từ lần thứ hai rà soát và bổ sung thông tin. Đối với những chủ đề phức tạp, bạn có thể sẽ cần lặp lại các bước trong kỹ thuật Feynman nhiều lần. Bởi mỗi lần giảng dạy thì bạn lại có thể sẽ lại tìm ra những điểm mù hay những lỗ hổng mới.

Bước 4: Tinh chỉnh, hệ thống lại kiến thức và hoàn thiện bài giảng ở bước 2.

Kỹ thuật Feynman cuối cùng thì mục tiêu là có được sự hiểu biết sâu sắc về khái niệm lý thuyết mà bạn đã tìm hiểu cũng như có thể giải thích chủ đề đó một cách đơn giản nhất để người người khác dễ dàng nắm bắt.

Tất nhiên, để đạt được điều này, chúng ta cần tập hợp mọi thứ mà mình đã thu thập được ở các Bước 1, 2 và 3, rồi tinh chỉnh và hệ thống nó.

Sau đó, hãy tiếp tục suy nghĩ về cách mà bạn có thể chia sẻ khái niệm lý thuyết này cho một đứa trẻ bằng một bài giảng đơn giản nhất và hấp dẫn nhất.

  • Làm đơn giản khái niệm lý thuyết là tốt, nhưng lồng ghép chúng vào trong những câu chuyện đơn giản và dễ nhớ thì còn tốt hơn. Những câu chuyện này làm cho các khái niệm có thể lắng đọng sâu hơn trong trí nhớ của chúng ta. Chúng cũng làm cho những kiến thức phức tạp và khô khan trở nên dễ dàng tiếp thu hơn đối với người bình thường.
  • Sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn, đơn giản. Hãy nhớ rằng, bạn đang chia sẻ kiến thức cho một đứa trẻ. Vậy nên, hãy cố gắng cắt bỏ tối đa các biệt ngữ và đi thẳng đến nội dung chính. Đừng quên sử dụng các ví dụ liên quan và phép loại suy.
  • Sử dụng hình ảnh và các phương pháp tương tác đa giác quan. Càng có nhiều giác quan tham gia vào công việc nghiên cứu và giải thích các khái niệm lý thuyết, bạn càng có nhiều khả năng học và dạy nó một cách hiệu quả.

Sau khi đã chuẩn bị xong một bài giảng hoàn chỉnh và thu hút, hãy lặp lại Bước 2 và bạn sẽ thấy ngạc nhiên về sự cải thiện trong kiến thức của mình.

4 buoc Feynman

 

 

 

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.